Chuyện Sách Cũ

Mực chưa khô trên báo cũ (Kỳ 2): Một mình Nam Kỳ, bộ ba khai sáng

Mực chưa khô trên báo cũ (Kỳ 2): Một mình Nam Kỳ, bộ ba khai sáng

Chuyện nhà in · nhà sách xưa

Nếu ở kỳ trước, chữ Quốc ngữ còn nằm gọn trong những cuốn từ điển của các giáo sĩ phương Tây, dùng để giảng đạo nhiều hơn để đọc chơi, thì đến năm 1865, nó bước hẳn ra khỏi trang từ điển để làm việc: in một tờ báo, dạy trong trường học, ghi vào văn bản của chính quyền. Suốt ba mươi lăm năm sau đó, việc dựng nên toàn bộ hạ tầng ấy, từ tờ báo đầu tiên tới bộ tự vị đầu tiên, không phải là công của một cá nhân thiên tài đơn độc, dù người đời sau vẫn quen kể như vậy. Đó là công của một bộ ba, chia nhau ba phần việc khác nhau: một người lo báo chí, giáo dục và sách công cụ; một người lo từ điển và gìn giữ văn hóa dân gian; một người lo dịch thuật, nối nghiệp thầy. Và người đứng đầu bộ ba ấy, cuối cùng, phải trả một cái giá đắt hơn tất cả những người còn lại.

I. Một nghị định, một tờ báo (1865-1869)

Ngày 1 tháng 4 năm 1865, một nghị định của chính quyền Nam Kỳ được ký, cho phép xuất bản tờ Gia Định Báo. Người đứng tên nhận giấy phép ấy không phải Trương Vĩnh Ký, mà là Ernest Potteaux, một thông ngôn người Pháp làm việc tại Soái phủ Nam Kỳ. Hai tuần sau, ngày 15 tháng 4, số báo đầu tiên ra mắt tại Sài Gòn: tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên trong lịch sử. Nó sẽ còn sống liên tục suốt 44 năm, tới tận ngày 1 tháng 1 năm 1910 (theo nghị định đình bản do Thống đốc Nam Kỳ Gourbeil ký ngày 21 tháng 8 năm 1909), một tuổi thọ hiếm có với bất kỳ tờ báo nào ở xứ này vào thời đó. Mốc kết thúc này từng có một dị bản cũ hơn, năm 1897, lưu hành trong một số tài liệu thư mục học trước đây, nhưng nghiên cứu đối chiếu văn bản hành chính gần đây đã xác định lại đúng ngày đình bản chính thức.

Trương Vĩnh Ký khi đó vừa mới trở về sau chuyến đi Pháp cùng phái đoàn Phan Thanh Giản, chưa hề có tên trong tờ nghị định khai sinh ra Gia Định Báo. Phải bốn năm sau, ngày 16 tháng 9 năm 1869, một nghị định khác, lần này của Chuẩn đô đốc G. Ohier, mới thực sự giao tờ báo cho ông, với chức danh Chánh tổng tài, tức giám đốc, có Huỳnh Tịnh Của phò tá trong vai trò chủ bút. Chỉ từ thời điểm ấy, Gia Định Báo mới thực sự trở thành công cụ trong tay bộ ba sẽ là nhân vật chính của kỳ này.

Một tờ nghị định cấp cho người khác, một tờ báo ra đời, rồi bốn năm sau mới đổi chủ thật sự: câu chuyện khởi đầu của Gia Định Báo hóa ra không gọn gàng như vẫn thường được kể lại. Nhưng đứng sau tờ báo, ngay từ khi nó còn thuộc về một viên thông ngôn Pháp, đã có một con người chuẩn bị cho công việc này từ rất lâu, và ông không hề đơn độc bước vào cuộc, dù trong những năm đầu, ông gần như một mình gánh vác tất cả.

II. Mười lăm năm một mình (1866-1880)

Người một mình gánh vác công việc ấy sinh năm 1837 tại Cái Mơn, Vĩnh Long, con thứ ba trong một gia đình quan võ triều Nguyễn. Cha ông, Trương Chánh Thi, mất tại Nam Vang khi ông mới lên hai; mẹ ông, bà Nguyễn Thị Châu, một mình nuôi con khôn lớn. Ông học chữ Nho từ năm lên năm, học chữ Quốc ngữ với một linh mục từ năm lên chín, rồi học tiếng La-tinh từ năm mười hai tuổi. Năm mười lăm tuổi, ông sang học ở một trường đạo tại Pinhalu, Cao Miên; một năm sau, ông tiếp tục sang trường đạo Pinang ở Mã Lai, học tới năm hai mươi hai tuổi. Trên chặng đường ấy có một giai thoại vẫn được truyền lại, rằng một lần nhặt được tờ giấy in chữ Pháp giữa rừng, cậu học trò tự đối chiếu với vốn La-tinh đã học để mò đọc cho ra nghĩa, khiến chính thầy giáo phải kinh ngạc. Ông thông thạo hơn hai mươi thứ tiếng khi về nước năm 1858, và được mời làm thông ngôn cho quân Pháp ngay năm sau đó. Một người chuẩn bị kỹ càng như vậy, khi Gia Định Báo ra đời năm 1865, đã sẵn sàng cho công việc từ rất lâu rồi.

Trong khoảng mười lăm năm sau khi Gia Định Báo ra đời, gần như chỉ có một cái tên xuất hiện đều đặn trên các trang sách Quốc ngữ: Trương Vĩnh Ký. Ông cho ra đời liên tiếp Chuyện đời xưa (1866), Abrégé de grammaire annamite (1867, tức "Ngữ pháp tóm lược tiếng An Nam"), Mẹo luật dạy học tiếng Pha-lang-sa (1869, sau này còn được mang sang tận Paris in lại ở nhà Challamel aîné năm 1872), Manuel des Écoles primaires (1870, "Sách giáo khoa trường tiểu học"), Cours d'annamite parlé (1871, "Giáo trình tiếng An Nam nói"), rồi Petit cours de géographie de la Basse-Cochinchine ("Giáo trình địa lý sơ lược vùng Hạ Nam Kỳ") và tập một của Cours d'histoire annamite ("Giáo trình lịch sử An Nam", 1875). Đây thuần túy là sách công cụ: ngữ pháp, địa lý, sử ký, những viên gạch đầu tiên cho một nền giáo dục bằng chữ Quốc ngữ chưa từng tồn tại trước đó.

Cũng trong năm 1875, ông làm một việc khác, ít được nhắc tới hơn nhưng có sức nặng riêng: phiên âm Kim Vân Kiều sang chữ Quốc ngữ, bản Quốc ngữ đầu tiên của tác phẩm này. Bản gốc từng thất lạc nhiều năm, sau này nhà nghiên cứu Lê Thanh mới tìm lại được tại Thư viện Bác Cổ EFEO ở Hà Nội.

Điều ít ai để ý là Trương Vĩnh Ký không chỉ viết bằng Quốc ngữ. Song song với chuỗi sách công cụ, ông còn viết cả những khảo cứu khoa học tự nhiên bằng tiếng Pháp, gửi cho Comité Agricole et Industriel de la Cochinchine (Hội đồng Nông nghiệp và Kỹ nghệ Nam Kỳ): một bài về loài kiến vàng dùng diệt sâu bọ bảo vệ cây cam quýt (đăng ngày 23 tháng 2 năm 1866, ký tên P. Truong vinh Ky), một báo cáo về tre và mây (1873), rồi một khảo cứu về hạt và gỗ nhuộm màu cùng ghe thuyền An Nam (1875). Một người vừa soạn sách vỡ lòng cho trẻ con Nam Kỳ, vừa viết báo cáo nông nghiệp gửi hội đồng khoa học thuộc địa, cho thấy phạm vi làm việc của ông rộng đến mức nào.

Có một chi tiết đáng chú ý khác trong giai đoạn này: hai cuốn sách Quốc ngữ sớm nhất bàn về toán học (Phép Toán, 1867) và đo đạc (Phép đo đất, 1867) đều không ghi tên tác giả. Giới nghiên cứu cho rằng chúng có thể là của Huỳnh Tịnh Của, nhưng đến nay vẫn chưa có gì xác nhận chắc chắn. Nếu đúng vậy, đây sẽ là dấu vết sớm nhất của người thứ hai trong bộ ba, xuất hiện âm thầm giữa hàng loạt đầu sách mang tên Trương Vĩnh Ký, nhưng bản thân điều đó vẫn còn là một nghi vấn bỏ ngỏ.

Tới năm 1879, chính quyền thực dân buộc phải làm một việc cho thấy chữ Quốc ngữ, dù đã có báo, có sách giáo khoa, vẫn chưa được đón nhận rộng rãi như người ta tưởng: nghị định Nam Kỳ ngày 23 tháng 7 năm 1879, do Giám đốc Nội vụ Béliard ký, treo thưởng 100 đồng cho công chức nào biết chữ Quốc ngữ, và 200 đồng cho ai biết chữ Nho. Phải dùng tới tiền bạc để khuyến khích công chức học một thứ chữ mới, đó là bằng chứng rõ nhất rằng công cuộc phổ biến chữ Quốc ngữ, dù đã có người tiên phong ròng rã mười lăm năm, vẫn còn là một cuộc vận động chưa hoàn thành.

Nhưng đúng một năm sau, tiếng vang của công việc ấy đã vượt khỏi biên giới Nam Kỳ, thậm chí vượt khỏi Đông Dương. Ngày 30 tháng 6 năm 1880, tại Á Châu học hội ở Paris, sử gia Pháp Ernest Renan phát biểu khen ngợi:

"Trương-vĩnh-Ký trình bày cho chúng ta biết một cách rõ ràng những ý tưởng của người Việt-nam và lịch-sử của họ... Nhiều nước ở Âu-châu không có cho những trường tiểu-học của họ một cuốn sách lược khảo có giá-trị như cuốn sách của ông Trương-vĩnh-Ký."

Một học giả bản xứ ở một xứ thuộc địa được một sử gia hàng đầu của chính quốc công khai ca ngợi trước một học hội danh tiếng, đó là đỉnh cao danh vọng của Trương Vĩnh Ký. Mười tám năm sau, câu chuyện sẽ rẽ sang một hướng hoàn toàn khác. Nhưng trước khi tới đó, bộ ba còn phải hình thành đã.

III. Bộ ba thành hình (1882-1888)

Ngay từ năm 1881, Trương Vĩnh Ký đã bắt đầu cộng tác với nhà in C. Guillaud et Martinon (hoạt động từ 1881 đến 1885, in ít nhất mười lăm đầu sách của ông), mở đầu bằng bài phú Trương Lương tòng Xích Tùng Tử du phú. Nhưng phải tới năm 1882, mối cộng tác ấy mới thực sự bung ra thành một chuỗi sách gia huấn dày đặc: Nữ tắc, Thơ mẹ dạy con, Thơ dạy làm dâu, Bất cưỡng, Huấn nữ ca (viết cùng Đặng Huỳnh Trung), Cổ Gia-Định phong-cảnh vịnhKim Gia-Định phong-cảnh vịnh. Cùng năm ấy, Tam Tự Kinh đối chiếu ba thứ chữ Hán, Nôm và Quốc ngữ được học giả Pháp Abel des Michels dịch và in tại Paris, ở nhà Ernest Leroux, một dấu hiệu cho thấy tư liệu Quốc ngữ Nam Kỳ đã lọt vào tận giới học thuật chính quốc.

Năm 1883, giữa lúc bộ ba đang tích lũy dần từng đầu sách, một thử nghiệm báo chí khác xuất hiện rồi biến mất chỉ trong ba tuần: Nhựt Trình Nam Kỳ (Le Journal de Cochinchine), một tờ tuần báo song ngữ Pháp - Quốc ngữ. So với Gia Định Báo khi đó đã sống được mười tám năm, sự ngắn ngủi của Nhựt Trình Nam Kỳ cho thấy làm báo chữ Quốc ngữ không phải cứ ra đời là tồn tại được; cần một bộ máy đứng sau, đúng như bộ ba đang dần dựng nên. Cũng trong năm này, Trương Vĩnh Ký còn tự soạn một tập sách viết hẳn bằng chữ Hán, 士載張永記集撰 (Tập soạn của Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký), dày 52 trang, được nhà Đông phương học Henri Cordier xếp vào mảng phong tục tín ngưỡng dân gian, bằng chứng cho thấy dù dồn phần lớn sức lực vào Quốc ngữ, ông chưa bao giờ từ bỏ hẳn thứ chữ mình học từ năm lên năm.

Nhưng phải tới năm 1884, người thứ hai trong bộ ba mới thực sự bước ra ánh sáng với tư cách độc lập. Trương Minh Ký, học trò và cộng sự thân cận nhất của Trương Vĩnh Ký, cho ra đời Truyện Phansa diễn ra quốc ngữ, dịch ngụ ngôn Pháp sang Quốc ngữ. Cùng năm đó, Trương Vĩnh Ký xuất bản Petit dictionnaire Français-Annamite ("Tự điển nhỏ Pháp - An Nam"), còn Abel des Michels công bố bản dịch tiếng Pháp đầu tiên của Kim Vân Kiều. Một năm sau, 1885, Trương Minh Ký tiếp tục với Phú bần truyện diễn ca, trong khi Trương Vĩnh Ký thành lập và làm giám đốc Trường Thông Ngôn Sài Gòn, giữ chức này tới năm 1888.

Năm 1886, người thứ ba xuất hiện đậm nét. Huỳnh Tịnh Của, thường ký tên Hoàng Tịnh, bắt đầu cộng tác với nhà in Rey et Curiol, nơi sẽ gắn với ông suốt phần đời còn lại, cho ra Chuyện Giải Buồn, phần tiếp theo Suite des Chuyện giải buồn, và Gia lễ. Đây cũng chính là nhà in mà, mười hai năm sau, sẽ trở thành chủ nợ của Trương Vĩnh Ký.

Năm 1887 là năm bản lề của cả giai đoạn. Huỳnh Tịnh Của cho ra Sách Bác Học Sơ Giai, một cuốn sách dày 248 trang bàn về thiên văn, địa lý, bác vật và hóa học. Trương Minh Ký dịch Les aventures de Télémaque ("Cuộc phiêu lưu của Télémaque") của Fénelon. Trương Vĩnh Ký cho ra loạt sách Lục súc tranh công, Tam thiên tự giải âm, Vocabulaire Annamite-Français ("Từ vựng An Nam - Pháp"), và được trao Bội tinh của Bộ Giáo Dục Pháp. Nhưng chi tiết quan trọng nhất của năm 1887 lại không mang tên ai trong bộ ba: Truyện thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản, viết năm 1886 và in năm 1887, được giới nghiên cứu văn học sử coi là tiểu thuyết Quốc ngữ hư cấu hiện đại đầu tiên. Đó là bước chuyển từ một nền văn tự chỉ để làm sách công cụ, sách giáo khoa, sách gia huấn, sang một nền văn tự có thể chở cả một câu chuyện hư cấu, tức có thể làm văn chương.

Con đường mà Trương Vĩnh Ký chọn, hợp tác với chính quyền thuộc địa để dựng nền tảng chữ Quốc ngữ, không phải con đường duy nhất mà trí thức Nam Kỳ thời ấy đi. Cùng thời với ông, có những người chọn hẳn hướng ngược lại: nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, mù lòa, tị địa, dùng thơ Nôm để kháng Pháp chứ nhất định không hợp tác. Bản thân Trương Vĩnh Ký, năm 1863, từng làm thông ngôn tháp tùng phái đoàn Phan Thanh Giản sang Pháp đàm phán chuộc đất. Ông không phải người duy nhất phải lựa chọn giữa hợp tác và cự tuyệt, chỉ là người chọn hợp tác để giữ lại văn hóa, còn người khác chọn cự tuyệt để giữ khí tiết. Cả hai lựa chọn đều để lại dấu ấn trong lịch sử Nam Kỳ cuối thế kỷ 19.

Năm 1888, Huỳnh Tịnh Của ra Sách quan chế, đối chiếu chức danh giữa hệ thống Pháp và Quốc ngữ, cùng Tân soạn từ trát nhứt xấp. Trương Minh Ký dịch Tuồng Joseph. Cùng năm đó, Trương Vĩnh Ký công bố một bài nghiên cứu ngắn, Écriture en Annam ("Chữ viết ở An Nam"), đăng trên tập san của Société des études indo-chinoises (Hội Nghiên cứu Đông Dương), tự nhìn lại chính hệ thống chữ viết ông đã dùng cả đời để làm việc. Và ngày 15 tháng 9 năm 1888, cũng chính ông viết một lá thư gửi Pène Siefert, từ chối thẳng thừng lời mời nhập quốc tịch Pháp:

"Làm như vậy... tôi sẽ mất hết cả uy danh cả thế lực của tôi vì đã mất cả tín nhiệm của Vua, của Triều đình và của dân Việt nam."

Suốt đời, dù cộng tác với chính quyền Pháp và được trọng vọng trong giới học thuật Pháp, ông chỉ mặc áo the truyền thống. Bộ ba, tới cuối năm 1888, đã hình thành đầy đủ: một người lo báo chí và sách công cụ, một người lo từ điển, một người lo dịch thuật. Nhưng ngay năm sau, người đứng đầu bộ ba sẽ phải trả giá cho chính sự hợp tác ấy.

IV. Cái giá của người đứng đầu (1889)

Năm 1889, Trương Vĩnh Ký cho ra bản chính thức của Đại HọcTrung Dung, hai trong bộ Tứ Thư, in ở nhà Aug. Bock qua Rey et Curiol, cùng với Lục-Vân-Tiên truyện có chú giải. Trương Minh Ký cũng góp mặt với Như tây nhựt trình. Nhìn bề ngoài, đây là một năm sản xuất bình thường như bao năm khác của bộ ba.

Nhưng đằng sau đó là một hoài bão dở dang, và điều ta biết về nó tới nay chỉ dựa trên đúng một dòng ghi chép còn sót lại. Trương Vĩnh Ký ôm ấp việc dịch trọn bộ Tứ Thư sang Quốc ngữ, và đã in xong hai cuốn đầu. Tới lượt bản dịch Mạnh Tử, tập một, theo ghi chép của nhà Đông phương học Henri Cordier, ông đang tự chép tay để in theo lối autographie (in thạch bản từ chính nét chữ tay của tác giả) thì bị chính quyền thuộc địa đình chỉ giữa chừng. Nguyên văn ghi lại của nhà Đông phương học Henri Cordier về việc này chỉ vỏn vẹn một câu: "leur autographie a été suspendue par l'administration", tức việc in thạch bản của họ đã bị chính quyền đình chỉ. Bản dịch Mạnh Tử của Trương Vĩnh Ký mãi mãi dở dang.

Đây là một nghịch lý đáng để dừng lại suy ngẫm. Trương Vĩnh Ký cộng tác với chính quyền Pháp gần như trọn đời, làm việc trong bộ máy hành chính, dạy trong trường thông ngôn, nhận huân chương của Bộ Giáo Dục Pháp. Vậy mà chính công trình học thuật thuần túy nhất của ông, một nỗ lực bảo tồn triết học phương Đông bằng chữ Quốc ngữ, lại bị chính cái chính quyền ông cộng tác ngăn chặn nửa chừng. Hợp tác không đồng nghĩa với được tin tưởng tuyệt đối. Người đứng đầu bộ ba, dù đã leo tới đỉnh danh vọng chín năm trước với lời khen của Ernest Renan, vẫn có những giới hạn mà ông không thể vượt qua.

V. Bộ tự vị đầu tiên (1891-1896)

Sau cú vấp năm 1889, nhịp độ làm việc của bộ ba không hề chậm lại, chỉ là đều đặn hơn, ít ồn ào hơn. Trương Minh Ký ra Chư quấc thại hội (1891), Ấu học khải mông (1892), Trị gia cách ngôn khuyến hiếu ca (1895), Phong thần Bá-ấp-khảo (1896). Trương Vĩnh Ký cho ra Minh tâm Bửu-giám, hai tập, in trong khoảng 1891 tới 1893. Huỳnh Tịnh Của, song song đó, âm thầm làm một công việc sưu tầm: Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn, rồi Câu hát góp, một tuyển tập dân ca, hoàn thành trong khoảng 1896 tới 1897.

Nhưng công trình lớn nhất của cả giai đoạn, và có thể nói là của cả bộ ba, lại thuộc về Huỳnh Tịnh Của: Đại Nam Quấc âm Tự vị. Tập một, từ vần A tới L, in năm 1895; tập hai, từ vần M tới X, in năm 1896, cùng ở nhà Rey, Curiol & Cie. Đây là bộ tự vị giải nghĩa tiếng Việt bằng tiếng Việt đầu tiên do chính người Việt biên soạn.

Cần nói rõ chữ "đầu tiên" ở đây theo nghĩa hẹp nào. Nếu tính mọi cuốn từ điển từng có mặt tiếng Việt, thì Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum ("Từ điển An Nam - Bồ Đào Nha - La Tinh") của Alexandre de Rhodes, in năm 1651, mới là cuốn đầu tiên tuyệt đối, ra đời hơn hai trăm năm trước. Cuốn Dictionarium Anamitico-Latinum ("Từ điển An Nam - La Tinh") của Taberd, dựa trên bản thảo của giám mục Pigneaux de Béhaine, in năm 1838, đứng thứ nhì. Nhưng cả hai cuốn ấy đều do giáo sĩ phương Tây biên soạn, dùng tiếng Bồ Đào Nha hoặc tiếng La-tinh để giải nghĩa, và đều thuộc phạm vi câu chuyện đã kể ở kỳ trước. Bộ tự vị của Huỳnh Tịnh Của khác ở chỗ: người Việt tự giải nghĩa tiếng Việt cho người Việt đọc, không cần qua một ngôn ngữ trung gian nào của người ngoài. Đó mới là cái "đầu tiên" thực sự mới mẻ của năm 1895, 1896.

Một chi tiết nhỏ nhưng đáng tin cậy: tháng 8 năm 1897, catalogue thư viện của Société des études indo-chinoises có ghi nhận tình trạng bảo quản sách của cả ba người, Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của và Trương Minh Ký, một bằng chứng niên đại độc lập, không phụ thuộc vào những gì Cordier từng ghi lại, cho thấy tới cuối thế kỷ 19, cả ba cái tên đã cùng được giới học thuật đương thời nhìn nhận như một khối công trình chung.

VI. Một bộ ba tan rã (1898-1900)

Ở kỳ trước, chúng ta đã khép lại bằng câu chuyện của những cuốn từ điển do người ngoài biên soạn. Nhưng người khép lại giai đoạn này, trớ trêu thay, lại là chính người mở ra nó.

Ngày 1 tháng 9 năm 1898, Trương Vĩnh Ký mất tại Chợ Quán, Sài Gòn, trong cảnh nghèo túng, mắc nợ chính nhà in Rey et Curiol, nơi đã in phần lớn tác phẩm đỉnh cao của ông suốt hơn một thập niên, tới hàng ngàn đồng bạc. Nhật ký ông tự ghi lại, không chút giấu giếm:

"Bị hai cái khánh tận, nhà in... nối nhà... mất hơn năm sáu ngàn đồng bạc. Phần thì sách vở bán không chạy, mắc nợ nhà in Rey et Curiol..."

Ông còn để lại một bài thơ như một bản di chúc:

"Cuốn sổ bình sinh công với tội,
Tìm nơi thẩm phán để thừa khai."

Có một nghịch lý đáng nói ở đây. Cũng trong năm 1898, nhà in Claude et Cie vẫn tiếp tục in Kim Vân Kiều lần thứ hai và Lục-Vân-Tiên lần thứ tư, tức sách của ông vẫn bán chạy, vẫn được tái bản đều đặn, ngay cả khi tác giả của chúng đang chết trong nợ nần. Cơ chế cụ thể vì sao một tác giả có sách bán chạy vẫn mắc nợ nhà in đến nay chưa có tư liệu nào giải thích thấu đáo, có thể liên quan tới cách nhà in ứng vốn in sách rồi tính lại với tác giả, một lối làm ăn bất lợi cho người viết. Nhưng riêng sự tương phản giữa sách bán chạy và người viết chết nghèo, tự nó, đã là một chi tiết đủ nói lên nhiều điều về thân phận người cầm bút thời ấy.

Nơi ông mất, về sau gọi là Nhà Kỷ Niệm Chợ Quán, có một khu vườn với một ngôi nhà bát giác là nơi đặt mộ phần, và một ngôi nhà cổ phía trong còn tàng trữ mười ba tài liệu chưa từng xuất bản: bản thảo khoa học về chim, về trái cây, về thú vật, hai tiểu luận viết bằng tiếng Pháp, và một lá thư dài ba mươi bảy trang gửi cho Paul Bert. Năm 1941, nhà nghiên cứu Lê Thanh, khi viết cuốn Trương-Vĩnh-Ký Biên-Khảo, đã tới ở nhiều tháng tại chính nơi này để đọc những tư liệu gia đình còn sót lại. Mười tám năm sau lời khen của Ernest Renan trước học hội Paris, người được khen ấy đã nằm lại trong một khu vườn nhỏ ở Chợ Quán, để lại sau lưng những trang bản thảo chưa kịp in.

Bộ ba không dừng lại ngay sau đó. Năm 1899, Trương Minh Ký cho ra Nhị thập tứ hiếu diễn ca, in tại Rey, Curiol & Cie, tác phẩm cuối cùng của ông trong bảng thống kê sách Quốc ngữ giai đoạn này. Cùng năm, Cờ bạc nha phiến của Trương Vĩnh Ký được tái bản, như một dư âm cuối cùng của người vừa khuất. Nhưng chính Trương Minh Ký cũng mất vào năm 1900. Và cũng năm ấy, nhà Đông phương học Pháp Henri Cordier, người từng ghi lại vụ đình chỉ bản dịch Mạnh Tử năm 1889, đích thân viết một bài điếu văn cho Trương Vĩnh Ký, đăng trên tạp chí học thuật T'oung Pao, một trong những nguồn tư liệu phương Tây sớm nhất và đầy đủ nhất về ông.

Hai trụ cột hàng đầu của bộ ba, Trương Vĩnh Ký năm 1898 và Trương Minh Ký năm 1900, mất trong vòng chưa đầy hai năm. Chỉ còn Huỳnh Tịnh Của sống tiếp, tới tận 1907, ngoài phạm vi của giai đoạn ba mươi lăm năm mà kỳ này kể lại. Một bộ ba từng chia nhau dựng cả một nền hạ tầng chữ Quốc ngữ, từ tờ báo đầu tiên tới bộ tự vị đầu tiên, gần như tan rã hoàn toàn ngay khi vừa hoàn thành sứ mệnh của mình.

Nhưng chữ Quốc ngữ, tới lúc ấy, đã không còn cần một mình bộ ba gánh vác nữa. Chỉ ba năm sau khi Trương Vĩnh Ký qua đời, một tờ báo mới ra đời ở Sài Gòn, Nông Cổ Mín Đàm, số đầu tiên phát hành khoảng đầu tháng 8 năm 1901. Người sáng lập tờ báo ấy không phải người Việt, nhưng chủ bút đầu tiên của nó, và những dịch giả nối nghiệp ông sau này, đều là những người đã lớn lên đọc sách của bộ ba vừa qua đời, và vẫn gọi Trương Vĩnh Ký là bậc tiền bối của nghề làm báo bằng chữ Quốc ngữ.

Về Momo Bookstore. Chúng tôi là những người bán và sưu tầm sách cũ. Khám phá sách cũ, sách xưa và sách quý hiếm tại muabansachcu.vn, nơi mỗi cuốn sách đều có một câu chuyện.

Đang xem: Mực chưa khô trên báo cũ (Kỳ 2): Một mình Nam Kỳ, bộ ba khai sáng

Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.
Bình luận của bạn sẽ được duyệt trước khi đăng lên
0 sản phẩm
0₫
Xem chi tiết
0 sản phẩm
0₫
Đóng