Chuyện Sách Cũ

Mực chưa khô trên báo cũ (Kỳ 1): Trước bình minh, giáo sĩ và từ điển

Mực chưa khô trên báo cũ (Kỳ 1): Trước bình minh, giáo sĩ và từ điển

Chuyện nhà in · nhà sách xưa

Chữ Quốc ngữ không ra đời ở Việt Nam. Nó ra đời ở Roma, năm 1651, trong một cuốn từ điển ba thứ tiếng in tại nhà in của Tòa thánh, do một giáo sĩ Pháp mang tới sau khi bị chính hệ thống bảo trợ truyền giáo cũ khước từ. Suốt 209 năm sau đó, chữ viết này chỉ được in ra đúng ba lần, không lần nào trên đất Việt Nam. Kỳ này kể về 209 năm ấy: không phải một câu chuyện trống rỗng, mà là câu chuyện của một thứ chữ còn nằm trọn trong tay một nhóm nhỏ giáo sĩ, chưa thuộc về ai khác.

I. Một cuốn từ điển sinh ra ở Roma, không phải ở Việt Nam (1651)

Trước khi có dấu sắc, dấu huyền, dấu ngã đúng chỗ như ngày nay, chữ quốc ngữ từng trông như thế này, in nguyên văn trên trang tựa một cuốn sách năm 1651: "Phép giảng tám ngày cho ke muấn chiu phép rứa toi, ma bĕao dao thanh dwe Chúa bloi." Không có dấu mũ, cách ghi âm còn ngập ngừng giữa lối viết Latinh và cách phát âm tiếng Việt, nhưng đọc lên vẫn nhận ra ngay đó là câu tiếng Việt: "kẻ muốn chịu phép rửa tội, mà vào đạo thánh Đức Chúa Trời."

Trang tựa đầy đủ của cuốn sách còn dài hơn thế, in cả bằng Latinh lẫn quốc ngữ song song: Catechismvs Pro ijs, qui volunt suscipere Baptismvm In Octo dies diuisus (tức "Sách giáo lý cho những ai muốn chịu phép Rửa tội, chia làm tám ngày"), do "Ope Sacrae Congregationis de Propaganda Fide in lucem editus" (được ấn hành nhờ Thánh bộ Truyền bá Đức tin), "Ab Alexandro de Rhodes è Societate Iesv" (bởi Alexandre de Rhodes, Dòng Tên). Sách in tại Roma, ngay tại nhà in của chính Thánh bộ Truyền bá Đức tin, khổ in-4, dày 319 trang chia hai cột song song, một cột tiếng Latinh, một cột tiếng Đàng Ngoài, kèm 2 trang đính chính. Giấy phép in được Bề trên Tổng quyền Dòng Tên ký ngày 8 tháng 7 năm 1651.

Cùng năm đó, cùng một nhà in ấy, còn có một cuốn sách khác ra đời: Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum (tức từ điển Việt, Bồ Đào Nha, Latinh). Sách có 4 tờ đầu, 450 trang chia thành 900 cột đánh số, kèm 91 tờ phụ lục và mục lục tra cứu. Khi cuốn sách này được đem bán đấu giá ở Paris năm 1929, nhà đấu giá ghi một dòng ngắn gọn nhưng chắc chắn: "Édition originale de ce premier dictionnaire annamite" (bản in gốc của cuốn từ điển An Nam đầu tiên này).

Đi kèm hai cuốn sách đó còn có một phần phụ lục ngữ pháp, không đề ngày tháng cụ thể: Linguae Annamiticae seu Tunchinensis Brevis Declaratio (tức "Giải trình vắn tắt về tiếng An Nam hay Đàng Ngoài"). Ba văn bản, in cùng một năm, tại cùng một nhà in, đủ để nói rằng năm 1651, chữ quốc ngữ đã có đủ ba chân của một hệ thống chữ viết hoàn chỉnh: một cuốn từ điển, một bản ngữ pháp, và một cuốn sách thực hành viết trọn vẹn bằng chính thứ chữ đó.

Người đứng tên biên soạn là Alexandre de Rhodes, giáo sĩ Dòng Tên. Nhưng tại sao lại là Roma, chứ không phải Lisboa hay Macao, hai trung tâm quyền lực thật sự của việc truyền giáo ở Á Đông lúc đó? Câu trả lời nằm ở chính hành trình của người mang cuốn sách tới đó.

II. Người mang chữ quốc ngữ tới Roma, và một cuộc vận động rời khỏi Bồ Đào Nha

Alexandre de Rhodes sinh năm 1591 tại Avignon, miền Nam nước Pháp, và mất năm 1660. Năm 1624, ông được cử sang Đàng Trong truyền đạo. Tại đây, theo một số tài liệu tiểu sử, ông tự học tiếng Việt với sự giúp đỡ của giáo sĩ Francisco de Pina, người đã sống và giảng đạo bằng tiếng Việt ở vùng Thanh Chiêm, Quảng Nam từ trước đó, cùng một số tín đồ người Việt cộng tác. Nghiên cứu học thuật gần đây, cụ thể là công trình Lịch sử chữ Quốc ngữ (1615-1919) của Phạm Thị Kiều Ly, dựa trên văn khố ở Roma, Lisbon, Madrid và Paris, còn xác định việc dùng mẫu tự Latinh ghi âm tiếng Việt đã bắt đầu sớm hơn nữa, từ khoảng 1615-1625, tại chính Thanh Chiêm và Nước Mặn (Quảng Nam, Bình Định), qua công sức của Pina cùng các thầy giảng người Việt. Rhodes còn kế thừa hai bản thảo từ điển nay đã thất truyền của hai giáo sĩ khác, Gaspar do Amaral và Antonio Barbosa. Cuốn từ điển năm 1651, vì thế, đúng hơn nên gọi là công trình hệ thống hóa và đưa vào bản in đầu tiên của một quá trình đã có từ trước, chứ không phải điểm khởi đầu tuyệt đối của chữ Quốc ngữ.

Tháng 7 năm 1645, Rhodes rời Việt Nam. Ông trở về châu Âu, và tại đây làm một việc ít ai ngờ tới: vận động thành lập một giáo đoàn truyền giáo riêng cho vùng Á Đông, tách khỏi sự phụ thuộc vào Bồ Đào Nha, quốc gia khi đó đang nắm quyền bảo trợ gần như toàn bộ hoạt động truyền giáo Công giáo ở châu Á theo một hệ thống đặc quyền có từ hai thế kỷ trước. Cuộc vận động ấy đưa Rhodes đi qua cả Roma lẫn Paris, và đây chính là lý do hợp lý nhất giải thích vì sao cuốn từ điển đầu tiên của chữ quốc ngữ không in ở Lisboa hay Goa, những trung tâm quyền lực truyền giáo cũ, mà in thẳng tại nhà in của Thánh bộ Truyền bá Đức tin ngay tại Roma: đó là cơ quan trung ương mới, độc lập với Bồ Đào Nha, mà chính Rhodes đã góp phần vận động phải có quyền lực lớn hơn.

Nhìn theo cách đó, cuốn từ điển 1651 không chỉ là một công trình ngôn ngữ học. Nó còn là sản phẩm phụ của một cuộc đấu tranh về quyền lực trong nội bộ Giáo hội, giữa hệ thống bảo trợ cũ của Bồ Đào Nha và một trung ương mới đặt tại Roma. Chữ quốc ngữ, thứ chữ sinh ra để ghi lại tiếng nói của một dân tộc ở tận rìa Đông của thế giới đã biết, lại vô tình trở thành một quân cờ nhỏ trong ván cờ quyền lực của châu Âu.

III. Phía sau cuốn từ điển là một dòng tu, và một cái chết bảy năm trước đó (1629-1651)

Rhodes không phải người châu Âu đầu tiên viết về vùng đất này. Năm 1629, tại Roma, Giuliano Baldinotti cho in Relatione del Viaggio di Tvnqvim (tức "Tường thuật chuyến đi Đàng Ngoài", bản tiếng Ý, nhà in Erede di Bartolomeo Zannetti), và cùng năm đó một bản tiếng Pháp cũng ra đời tại Paris, nhà in Sebastien Cramoisy: một trong những mô tả châu Âu sớm nhất về Đàng Ngoài. Hai năm sau, 1631, tới lượt Christoforo Borri, một giáo sĩ Dòng Tên người Ý, với Relatione della nuova missione... al regno della Cocincina (tức "Tường thuật về sứ mệnh truyền giáo mới... tại vương quốc Đàng Trong"), bản gốc in tại Roma (nhà in Francesco Corbelletti), rồi ngay trong năm đó một bản dịch tiếng Pháp của Antoine de la Croix ra đời tại Lille. Nhà đấu giá năm 1929 sau này ghi về Borri: "một trong những nhà thám hiểm đầu tiên của Đàng Trong." Trong 25 năm sau, sách của ông còn được dịch thêm bảy lần nữa, sang Latinh, Đức, Hà Lan, Anh: tổng cộng tám bản dịch cho một trong những mô tả châu Âu đầu tiên về Đàng Trong.

Nói cách khác, khi Rhodes bắt tay biên soạn từ điển, ông không mở đường mà thừa hưởng một truyền thống ghi chép đã có sẵn từ hơn hai mươi năm trước, công việc của cả một dòng tu chứ không của riêng một cá nhân.

Và dòng tu đó cũng đã trả giá bằng máu, trước khi trả giá bằng chữ nghĩa. Ngày 26 tháng 7 năm 1644, một thầy giảng tên Anrê, người Phú Yên, mới 19 tuổi, bị xử tử: người tử đạo đầu tiên của giáo hội xứ này. Rhodes tự ghi trên trang bìa một cuốn sách sau này rằng ông "đã luôn có mặt trong suốt câu chuyện này." Cái chết ấy được kể lại hai lần, ở hai nơi, bằng hai thứ tiếng. Năm 1652, tại Roma, nhà in Heredi del Corbelletti in Relatione della morte di Andrea Catechista (tức "Tường thuật cái chết của thầy giảng Anrê"), khổ in-4, dày 41 trang, tiếng Ý. Một năm sau, 1653, tại Paris, nhà in của anh em Sebastien và Gabriel Cramoisy in bản tiếng Pháp: La glorieuse mort d'André, catéchiste de la Cochinchine (tức "Cái chết vinh quang của Anrê, thầy giảng xứ Đàng Trong"), khổ nhỏ, 109 trang. Nhà đấu giá 1929 xếp bản này vào hạng "Très rare" (rất hiếm), và ghi chú sách có kèm một tranh khắc lớn gấp trong sách tả lại cảnh tử đạo.

IV. Một bản thảo trôi dạt qua bốn đời chủ, và một cuộc đấu giá có học giả lừng danh bảo chứng

Không phải mọi thứ Rhodes để lại đều được in ngay. Có một bản thảo viết tay, không đề năm chính xác, dịch chính cuốn Phép giảng tám ngày sang chữ Xiêm, dày 311 trang giấy Trung Hoa. Ghi chú của người xưa để lại trên bản thảo ghi tên người dịch là "Domini Laurentii" (nguyên văn tiếng Latinh trong ghi chú gốc, nghĩa đen là "của ngài Laurent"), được chú thêm là con trai của viên Barkalom, chức quan tương đương Tể tướng của triều đình Xiêm La. Từ chi tiết này, người biên soạn catalogue Cordier suy đoán bản dịch ra đời trước năm 1701, nhưng không nói rõ căn cứ, nên xin giữ nguyên đây như một suy đoán chưa kiểm chứng được, không phải một mốc năm chắc chắn.

Bản thảo ấy sau đó có một hành trình sở hữu khá ly kỳ, đáng kể như một giai thoại sưu tầm sách hơn là một cột mốc xuất bản. Giáo sĩ Olivier Simon Le Bon (sinh 17 tháng 3 năm 1710 tại Saint Malo, mất 27 tháng 10 năm 1780 tại Goa) là người đã chú thích nó. Sau đó một linh mục tên Vuillemin mua lại bản thảo tại Bangkok. Năm 1809, nhà Đông phương học Abel Rémusat mua nó từ Vuillemin, tại Besançon. Bản thảo rồi qua tay nhà sưu tầm Alphonse Pinart, cuối cùng tới André Salles, người viết một tờ ghi chú riêng, ký "Paris, avril 1914", kể việc ông cùng một linh mục khác đối chiếu chữ viết tại văn khố Hội Thừa sai để xác định người chú thích chính là giáo sĩ Le Bon nói trên.

Mười lăm năm sau, chính André Salles ấy trở thành nhân vật trung tâm của một câu chuyện khác, lớn hơn nhiều. Năm 1929, tại Paris, toàn bộ thư viện riêng của ông được đem ra bán đấu giá, với một lời tựa do đích thân Paul Pelliot, viện sĩ, nhà Hán học lừng danh bậc nhất nước Pháp thời đó, đứng ra viết. Một học giả tầm cỡ như vậy nhận lời bảo chứng cho một phiên đấu giá tư nhân là chuyện không thường thấy, và đó là dấu hiệu đầu tiên cho thấy bộ sưu tập này không tầm thường.

Khi giở catalogue phiên đấu giá ấy, người ta nhận ra vì sao. André Salles đã âm thầm gom được gần như toàn bộ các ấn bản gốc và tái bản liên quan tới Alexandre de Rhodes vào một chỗ duy nhất: không chỉ cuốn từ điển và cuốn Phép giảng tám ngày năm 1651, mà còn cả cuốn sách tường thuật truyền giáo in trước đó một năm, Relazione de' felici successi della Santa Fede... nel regno di Tunchino (tức "Tường thuật những thành công tốt đẹp của Đức tin Thánh... tại vương quốc Đàng Ngoài", Roma, 1650, kèm bản đồ khắc gấp về Đàng Ngoài), một ấn bản lần hai của chính cuốn này in tại Milano cùng năm 1651 mà nhà đấu giá ghi nhận là "Deuxième édition très rare, inconnue à Cordier" (ấn bản hiếm của lần in thứ hai, ngay cả Henri Cordier, tác giả bộ thư mục học Đông Dương đồ sộ nhất từng có, cũng chưa từng biết tới), cùng với sáu tập hồi ký hành trình khác của Rhodes in rải từ 1653 tới 1682, và một bản in lại năm 1906, tại Kẻ Sở, của chính nguyên tác Latinh Tunquinensis Historiae libri duo (Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài), đóng bìa kiểu Đông Dương bằng sơn mài và giấy dán màu cam dát vàng, được nhà đấu giá gọi là "mẫu vật hiếm về kỹ thuật in ấn của các Cha Kẻ Sở."

Ba mức độ hiếm mà chính nhà đấu giá phân biệt rõ trong catalogue, đáng để người đọc hôm nay hiểu đúng: "édition originale" (bản gốc, xác thực đúng lần in đầu) là mức thẩm định căn bản; "rare" hay "très rare" (hiếm, rất hiếm) là mức trên; còn "inconnue à Cordier" là mức cao nhất mà giới sưu tầm sách cổ thời đó có thể dùng để khen một cuốn sách, vì Cordier, người đã bỏ ra 45 năm dựng nên bộ thư mục học Đông Dương dùng làm nguồn tra cứu chuẩn cho cả một ngành, còn không biết cuốn đó tồn tại. Một bộ sưu tập tư nhân, gom được từ một người sưu tầm giấu tên trong nhiều năm, lại nắm giữ những thứ mà học giả đầu ngành cũng chưa từng thấy: đó là câu chuyện thật sự đằng sau những dòng ghi chú tưởng như khô khan của một catalogue đấu giá.

V. Một khoảng lặng dài gần hai thế kỷ (1651-1838)

Rồi, ngay sau đỉnh cao năm 1651, câu chuyện đột ngột dừng lại.

Trong toàn bộ tư liệu dùng để dựng lại kỳ này, từ năm 1651 tới năm 1838, không tìm được một ấn phẩm quốc ngữ mới nào được in ra: không một cuốn từ điển, không một bản ngữ pháp, không một cuốn sách in bằng thứ chữ mà Rhodes vừa hệ thống hóa. 187 năm, gần như trắng, chỉ có bản thảo dịch tiếng Xiêm kể ở mục trên là mảnh duy nhất liên quan trực tiếp tới việc chuyển dịch nội dung quốc ngữ sang một thứ chữ khác, và bản thân nó cũng không có một năm tháng chắc chắn.

Xen giữa khoảng trống đó là vài mảnh vụn chính trị và tôn giáo, không liên quan trực tiếp tới xuất bản quốc ngữ nhưng đủ phác một bối cảnh. Ngày 28 tháng 11 năm 1787, Giám mục Pierre Pigneaux de Béhaine (Bá Đa Lộc) thay mặt Nguyễn Ánh ký Hiệp ước Versailles với triều đình vua Louis XVI. Rồi ngày 20 tháng 9 năm 1837, tại Sơn Tây, linh mục Jean Charles Cornay bị chém đầu, để lại một bức thư viết cho cha mẹ trước khi hành quyết, về sau được một nhà đấu giá trích lại gần như nguyên văn.

Không có gì trong khoảng 1651 đến 1838 lấp được khoảng trống này bằng một cuốn sách quốc ngữ mới. Cứ để nó trống, đúng như tư liệu cho thấy: đây không phải một lỗ hổng nghiên cứu cần lấp đầy bằng suy đoán, mà nhiều khả năng là một khoảng lặng có thật. Việc truyền giáo bị hạn chế, việc in ấn phụ thuộc hoàn toàn vào những nhà in ở Roma hay châu Âu, chưa có nơi nào tại chỗ đủ sức tự in một cuốn sách quốc ngữ: đó là những cách giải thích hợp lý, nhưng vẫn chỉ là suy đoán, không phải điều tư liệu khẳng định chắc chắn.

VI. Một giám mục viết dở, một giám mục viết xong: cuốn từ điển thứ hai (1838)

Người đứng tên phá vỡ khoảng lặng ấy là Jean Louis Taberd, nhưng công trình mang tên ông không hoàn toàn là của riêng ông.

Trước khi nói tới cuốn từ điển, cần biết Pierre Pigneaux de Béhaine, người khởi thảo nó, đã có một vị trí đặc biệt trong triều đình Việt Nam như thế nào. Chính ông là người năm 1784 đề nghị Nguyễn Ánh gửi hoàng tử Cảnh, con trưởng, sang Pháp cầu viện, và chính ông thay mặt Nguyễn Ánh ký Hiệp ước Versailles năm 1787. Khi ông mất, vua Gia Long đã cho tổ chức quốc tang, và văn thần Đặng Đức Siêu, một cây bút Nôm nổi tiếng thời đó, đã soạn văn tế cho lễ tang ấy, đặt tên tuổi Bá Đa Lộc ngang hàng với các công thần Võ Tánh, Ngô Tòng Chu trong cùng một bài văn tế. Một giáo sĩ nước ngoài được triều đình phong kiến Việt Nam vinh danh bằng chính thể loại văn chương trang trọng nhất dành cho công thần, đó là một vị thế hiếm có, và cũng là lý do bản thảo từ điển dở dang của ông, khi ông qua đời năm 1799, xứng đáng được một người khác hoàn thành.

Người ấy là Jean Louis Taberd. Năm 1838, tại Serampore, một thị trấn nhỏ ở Ấn Độ, cách Việt Nam nửa vòng trái đất, cuốn Dictionarium anamitico latinum (tức "Từ điển An Nam, Latinh") được in thành hai tập, gần bốn mươi năm sau ngày Pigneaux de Béhaine qua đời. Một nhà đấu giá về sau ghi chú ngắn gọn về cuốn sách: "Rare et recherché" (hiếm và được săn lùng).

Đây là cuốn từ điển An Nam Latinh lớn thứ nhì trong lịch sử, sau chính cuốn của Rhodes 187 năm trước. Nhưng điều đáng chú ý nhất không phải nội dung, mà là địa điểm: một lần nữa chữ quốc ngữ lại phải ra đời ở một nơi rất xa Việt Nam. Lần trước là Roma. Lần này là Serampore, Ấn Độ, không phải vì thiếu tài liệu hay thiếu người biết chữ, mà đơn giản vì ngay cả năm 1838, ở chính đất nước có thứ chữ này, vẫn chưa có nơi nào in nó ra được.

Có một chi tiết nhỏ, không liên quan trực tiếp tới xuất bản nhưng đáng nhắc, về phần di sản của Taberd ngoài cuốn từ điển. Khoảng năm 1830, theo lệnh của ông, một cơ sở tu viện dòng Mến Thánh Giá (Amantes de la Croix, theo sử liệu dòng tu là dòng nữ tu bản xứ do Giám mục Lambert de la Motte sáng lập từ năm 1670) được lập tại Tân Triêu, do hai nữ tu tên Tim và Tạ, người Bình Định, đứng ra coi sóc. Không phải một cuốn sách, nhưng là một dấu vết hiếm hoi về phụ nữ Việt gắn liền với chính giai đoạn này, khi phần lớn tư liệu còn lại chỉ nhắc tên các giáo sĩ nam.

VII. Khi Pháp cần một cuốn từ điển, vẫn phải mượn nhà in Xiêm (1861)

Hai mươi ba năm sau Taberd, khoảng lặng vẫn chưa dứt hẳn, dù lúc này hoàn cảnh đã đổi khác hoàn toàn: người Pháp đã có mặt, và đang cần chính thứ chữ này để cai trị.

Năm 1861, Phó Đô đốc Charner, người chỉ huy quân Pháp vừa đánh chiếm xong Nam Kỳ, ra lệnh biên soạn một cuốn Vocabulaire Français Annamite et Annamite Français (tức "Từ vựng Pháp, Annam và Annam, Pháp"). Người thực hiện là M. Aubaret. Sách được in ra, nhưng không phải tại Sài Gòn, nơi quân Pháp vừa kiểm soát, mà tại Bangkok, ở nhà in của Mission Catholique. Lý do rất đơn giản và rất trần trụi: lúc đó Sài Gòn chưa có nhà in nào đủ năng lực để in được một cuốn từ điển.

Đây có lẽ là chi tiết đắt giá nhất của cả 210 năm được kể trong kỳ này. Ngay khi người Pháp vừa chiếm được Nam Kỳ, cần gấp một công cụ ngôn ngữ để cai trị và giao tiếp, thứ đầu tiên họ phát hiện ra không phải là thiếu người biết tiếng Việt, mà là thiếu một nhà in đủ sức làm việc đó ngay trên đất Việt Nam. 210 năm sau khi Rhodes in cuốn từ điển đầu tiên ở Roma, chữ quốc ngữ vẫn còn là một thứ chữ không có nhà in của riêng mình, ngay trên chính mảnh đất nó nói về.

Ba năm sau, 1864, tại Paris, Aubaret còn in thêm một cuốn Grammaire de la langue Annamite (tức "Ngữ pháp tiếng Annam"). Nhưng đó đã là chuyện của một giai đoạn khác, nằm ngoài khoảng 1651-1860 mà kỳ này muốn kể.

VIII. Bốn năm sau, một nhà in ra đời ngay tại Sài Gòn

Ba cuốn từ điển, ba nơi in: Roma năm 1651, Serampore năm 1838, Bangkok năm 1861. Không cuốn nào trong số đó ra đời trên đất Việt Nam. Suốt 210 năm, chữ quốc ngữ là thứ chữ được viết ra để nói về người Việt, nhưng lại luôn phải mượn nhà in của người khác để tồn tại thành sách.

Đáng nói thêm: ngay cả sau khi chữ quốc ngữ được người Việt tiếp quản, câu hỏi nó thật sự phục vụ ai vẫn còn gây tranh cãi nhiều thập niên sau. Một nghiên cứu xuất bản năm 1975 của học giả Nguyễn Văn Trung còn đặt lại toàn bộ vấn đề: liệu những người Việt đầu tiên viết chữ quốc ngữ có phải là những "người tiên phong" tự nguyện, hay đơn thuần thực hiện một chính sách hành chính có chủ đích của chính quyền thuộc địa. Đó là một cuộc tranh luận học thuật nghiêm túc, không thuộc phạm vi kỳ này, nhưng đáng để giữ trong đầu khi bước sang giai đoạn tiếp theo: câu chuyện về thứ chữ này không kết thúc, và cũng không đơn giản, ở đúng cái mốc mà bài này dừng lại.

Rồi năm 1865, chưa đầy bốn năm sau khi Aubaret phải mượn nhà in Xiêm, một tờ báo sẽ ra đời, lần đầu tiên, ngay tại Sài Gòn, in bằng chính thứ chữ mà Alexandre de Rhodes đã mang tới Roma hơn hai trăm năm về trước. Đó là câu chuyện của một kỳ khác.

Về nguồn tư liệu của loạt bài: loạt bài tham khảo báo chí và sách gốc thời kỳ đó (qua bộ sưu tập số hóa Gallica của Thư viện Quốc gia Pháp), các công trình thư mục học (Bibliotheca Indosinica của Henri Cordier, Bibliographie de l'Indochine của Paul Boudet, catalogue bán đấu giá thư viện André Salles với lời tựa Paul Pelliot, 1929), các nghiên cứu văn học sử và ngôn ngữ học đã xuất bản (Bảng lược đồ văn học Việt Nam của Thanh Lãng, Trương Vĩnh Ký Biên Khảo của Lê Thanh, Lịch sử chữ Quốc ngữ của Phạm Thị Kiều Ly, Chữ, Văn Quốc Ngữ Thời Kỳ Đầu Pháp Thuộc của Nguyễn Văn Trung), cùng một số công trình học thuật gần đây hơn. Với một khối tư liệu trải dài gần ba thế kỷ, loạt bài khó tránh khỏi thiếu sót, nhất là ở những giai đoạn xa (thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ 19) nơi tư liệu gốc còn thưa thớt. Nếu độc giả phát hiện chi tiết nào chưa chính xác, Momo Bookstore mong nhận được góp ý để chỉnh sửa.
Về Momo Bookstore. Chúng tôi là những người bán và sưu tầm sách cũ. Loạt bài biên soạn dựa trên tư liệu sưu tầm và tham khảo từ kho sách cũ, sách xưa tại Momo Bookstore. Khám phá sách cũ, sách xưa và sách quý hiếm tại muabansachcu.vn, nơi mỗi cuốn sách đều có một câu chuyện.

Đang xem: Mực chưa khô trên báo cũ (Kỳ 1): Trước bình minh, giáo sĩ và từ điển

Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.
Bình luận của bạn sẽ được duyệt trước khi đăng lên
0 sản phẩm
0₫
Xem chi tiết
0 sản phẩm
0₫
Đóng