Bảy cái tên bị quên: cụm nhà xuất bản nhạc tờ "vỉa hè" Sài Gòn thập niên 1950 và mạch ngầm tân nhạc Việt
Một buổi sáng nào đó ở Sài Gòn đầu thập niên 1950, người ta có thể thấy hình ảnh này: trên vỉa hè đường Catinat, đường Lê Lợi, hay quanh chợ Bến Thành, từng chồng giấy Bristol gấp đôi được trải ra trên một tấm gỗ, mỗi tờ in một bài hát mới. Bìa trước thường vẽ một thiếu nữ mắt to, hoặc một cảnh thuyền sông Hương, hoặc một chàng trai cầm cây đàn ghi-ta. Trang trong là khuông nhạc, dăm câu lời, lác đác hợp âm. Trang cuối là quảng cáo cho mấy nhạc phẩm sắp ra. Người mua phần lớn là học sinh, là các cậu các cô đệ tứ đệ tam, dăm xu một tờ, đem về nhà tự đánh đàn theo. Đó là cái thị trường nhạc tờ Sài Gòn thập niên 1950, một thị trường lớn hơn người ta nghĩ, mà cho đến hôm nay, gần như cả một thế hệ nhà xuất bản tham gia thị trường ấy đã bị xoá khỏi bộ nhớ chung của văn hoá Việt.
Ai cũng nhớ NXB Tinh Hoa của Tăng Duyệt ở Huế. Người yêu nhạc miền Nam còn nhớ Tinh Hoa Miền Nam của Lê Mộng Bảo, có tên trong "Worldwide Music Trade Directory" do Thuỵ Điển xuất bản. Nhưng còn hơn mười cái tên khác, làm thành cụm "vỉa hè" và "bán vỉa hè" của Sài Gòn cùng giai đoạn ấy, gần như không ai nhắc tới: An Phú, Sống Chung, Á Châu, Minh Phát, Hương Thu, Mây Ngàn, Sóng Lúa, Phương Mộc Lan, Diên Hồng, Nguyên Thảo, Tiếng Bạn, Lửa Hồng. Không Wikipedia, không bài chuyên đề, không ngay cả một dòng trong các từ điển âm nhạc chính thống. Bài này, viết từ ghi chép trong hồi ký Phạm Duy, từ tập 2 bộ Sài Gòn Chuyện Đời Của Phố (Phạm Công Luận, NXB Văn Hoá Văn Nghệ TP.HCM 2014), từ bài "Thú Chơi Tờ Nhạc" của Lê Văn Nghĩa (Tuổi Trẻ Cuối Tuần), từ các tư liệu của trang nhacxua.vn về Lê Mộng Bảo, Duy Liêm, Kha Thuỳ Châu, và từ bài Nhạc Tờ Không Chịu Cũ (Saigon Nhỏ News, 2025), là một cố gắng trả lại tên cho những nhà xuất bản nhạc đã bị thời gian phủ bụi, đồng thời dựng lại cả một hệ sinh thái tân nhạc Sài Gòn đã từng nuôi sống vài thế hệ học sinh và lính trẻ miền Nam.
Cái khung "chính thống": Tinh Hoa Huế và phương châm Tăng Duyệt
Trước khi nói tới các nhà xuất bản nhạc tờ bị quên, cần dựng lại cái khung "chính thống" đối lập. Đầu tàu của nhạc tờ Việt là NXB Tinh Hoa, do Tăng Duyệt sáng lập tại Huế năm 1945. Tăng Duyệt sinh năm 1915, cha người Quảng Đông mẹ người Việt; ông mở hiệu sách Tân Hoa trên đường Gia Long Huế, sau chuyển về 121 Trần Hưng Đạo, rồi từ đó lập nhà in Tân Hoa và NXB Tinh Hoa.
Phương châm in trên bìa 4 của mỗi tờ nhạc Tinh Hoa, một câu mà giới chơi tờ nhạc thuộc lòng, viết rất tự tin: "Để biểu dương một nguồn âm nhạc Việt Nam mới trên nền tảng văn hoá và nghệ thuật, NXB Tinh Hoa đã và sẽ lần lượt trình bày những nhạc phẩm chọn lọc giá trị nhất của các nhạc sĩ chân chính, với một công trình ấn loát mỹ thuật để hiến các bạn yêu âm nhạc góp thành một tập nhạc quý." Câu đó nói lên thái độ làm sách của Tinh Hoa, chọn lọc, in mỹ thuật, trả nhuận bút sòng phẳng.
Bài đầu tiên Tinh Hoa in là Đêm Đông của Nguyễn Văn Thương năm 1945, một sự khởi đầu mang ý nghĩa biểu tượng: bài hát ấy được Nguyễn Văn Thương sáng tác trong đêm giao thừa 1939 khi ông không có tiền về Huế, đi lang thang trên những con phố Hà Nội. Cùng năm 1945, Tinh Hoa cho ra tiếp Trên Sông Hương, Hương Giang Một Đêm Trăng, Dưới Bóng Cờ (cùng Nguyễn Văn Thương), Chiến Sĩ Vô Danh, Chinh Phụ Ca, Nợ Xương Máu (Phạm Duy), Gấm Vàng(Dương Minh Ninh). Tám tựa cho năm đầu, mỗi tựa một mảng đề tài, là một danh mục mở đường rất khôn ngoan.
Năm 1946, Tinh Hoa in bốn ca khúc của Phan Huỳnh Điểu, với nhuận bút 800 đồng một bài, trong khi giá bán một tờ nhạc chỉ 7 đồng, một chênh lệch tuyệt vời để hình dung quy mô đầu tư của Tinh Hoa cho cây bút sáng tác. Trong mười một năm tồn tại (1945-1956), Tinh Hoa in gần 500 ca khúc, có mặt gần như đầy đủ các nhạc sĩ tiền chiến: Văn Cao, Lê Thương, Đỗ Nhuận, Hoàng Quý, Hoàng Phú (tức Tô Vũ), Lưu Hữu Phước, Nguyễn Văn Tuyên, Nguyễn Xuân Khoát, Thẩm Oánh, Đặng Thế Phong, Thông Đạt, Nguyễn Mỹ Ca, Hoàng Thi Thơ. Tinh Hoa Huế đóng cửa năm 1956 vì chiến sự căng thẳng tại Huế. Đó là cái mức "chính thống" của thị trường, đã trở thành chuẩn mực để đối chiếu các NXB sau này.

Lê Mộng Bảo và Tinh Hoa Miền Nam: chân dung "ông anh chi tiền"
Người tiếp nối Tinh Hoa ở Sài Gòn là Lê Mộng Bảo, một nhân vật mà bất kỳ ai nghiên cứu nhạc tờ Sài Gòn đều phải nhắc.
Lê Mộng Bảo sinh năm 1923 trong một gia đình người Phúc Kiến tại Huế. Mười sáu tuổi, ông đã là phóng viên báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng vào năm 1939, đó là cánh cửa đầu vào nghề chữ. Mười tám tuổi, ông ra Hà Nội học. Song song với học văn hoá và học nghề, ông thụ giáo nhạc sĩ Đặng Thế Phong (chính tác giả Con Thuyền Không Bến và Giọt Mưa Thu) về nhạc lý và vĩ cầm, thụ giáo nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương về nhạc lý và sáng tác ca khúc. Hai người thầy ấy, một mất sớm năm 1942 vì lao phổi, một sống đến năm 2002, là hai chứng chỉ chất lượng cho nền tảng âm nhạc của Lê Mộng Bảo.
Năm 1948, Tăng Duyệt mời Lê Mộng Bảo về Tinh Hoa Huế làm phụ tá điều hành, lo phần chọn bài để xuất bản. Đây là một quyết định có hậu quả: Lê Mộng Bảo, vì công việc phát hành, thường xuyên đi lại giữa Huế và Hà Nội, qua đó kết thân với gần như toàn bộ tinh hoa âm nhạc miền Bắc thời ấy, gồm Nguyễn Xuân Khoát, Lưu Hữu Phước, Bùi Công Kỳ, Văn Cao, Phạm Duy, Phan Huỳnh Điểu, Nguyễn Đình Phúc. Cái mạng lưới quan hệ ấy về sau trở thành tài sản vô hình lớn nhất của ông. Năm 1952, ông được Tăng Duyệt cử vào Sài Gòn làm giám đốc chi nhánh Tinh Hoa Miền Nam. Khi Tinh Hoa Huế đóng cửa năm 1956, Lê Mộng Bảo tách ra lập NXB Tinh Hoa Miền Nam độc lập, lấy địa chỉ số 51 Sài Gòn, chỉ với hai người phụ trách cả xuất bản lẫn phát hành.
Trong gần hai mươi năm hoạt động (1956-1975), Tinh Hoa Miền Nam xuất bản hơn 200 ca khúc nhạc rời. Đây là NXB nhạc đầu tiên của Việt Nam có tên trong "Worldwide Music Trade Directory" do Thuỵ Điển ấn hành, một sự công nhận quốc tế gần như duy nhất mà nhạc tờ Việt Nam từng nhận được. Từ năm 1958, hoạ sĩ vẽ bìa thường xuyên của Tinh Hoa Miền Nam là Kha Thuỳ Châu. Từ năm 1970, một ca khúc đắt được Tinh Hoa Miền Nam trả nhuận bút bằng một lượng vàng, tương đương 20.000 đồng thời đó, gần gấp ba mươi lần lương tháng cơ bản của một công chức trẻ. Năm 1955, Lê Mộng Bảo hợp tác với Tô Kiều Ngân chủ trương tạp chí Sóng Nhạc, tạp chí âm nhạc và kịch nghệ đầu tiên của Việt Nam.
Bên cạnh nghề xuất bản, Lê Mộng Bảo còn là một nhạc sĩ sáng tác, với những ca khúc nổi tiếng Đập Vỡ Cây Đàn, Đổi Thay, Mùa Ve Sầu, Phận Nghèo, Thân Phận, Bọt Bèo, Xa Anh Rồi, Không Hiểu Tại Sao, Sao Lừa Dối Em. Ông còn là nhà thơ với bút hiệu Mộng Quỳnh, in rải rác trên các tạp chí Huế thập niên 1950. Các bút danh khác: Tùng Vân, Tuyết Sơn, Anh Bảo, Hoa Linh Bảo. Trong giới nhạc sĩ Sài Gòn, ông được gọi bằng biệt danh "ông anh chi tiền", một biệt danh nói lên cả phong cách quản lý lẫn cá tính. Ông hào phóng với bạn nghề, trả nhuận bút sớm và đầy đủ, sẵn sàng ứng tiền cho các nhạc sĩ trẻ. Người yêu nhạc tờ hôm nay đọc lại tiểu sử ông không khỏi xúc động: sau 1975, ông đi học tập cải tạo tới năm 1981; đến năm 1993 sang Hoa Kỳ theo diện HO, định cư tại California, sống những năm cuối đời "lay lắt" như tên một bài hát ông từng viết, rồi mất năm 2007. Bài Phận Nghèo của ông, hoá ra, là một dự cảm cay đắng cho chính tác giả.
"Vỉa hè" có nghĩa là gì: kinh tế của An Phú và Minh Phát
Khi Phạm Duy năm 1951 nhận tác quyền từ một cụm sáu nhà xuất bản nhạc tờ, ông liệt kê theo cách phân loại sau: Thế Giới (Hà Nội), Tinh Hoa (Huế), Sống Chung (Sài Gòn), Á Châu (Sài Gòn), An Phú (Sài Gòn, "vỉa hè"), Minh Phát (Sài Gòn, "vỉa hè"). Hai chữ "vỉa hè" gắn vào hai cái tên cuối là một xếp loại mặc nhiên đã được giới nhạc sĩ chấp nhận. Trong hồi ký, Phạm Duy còn dùng một cách gọi khác cho hiện tượng này: "chợ trời âm nhạc", và đặt tên cho dòng tờ nhạc bình dân ấy là "nhạc máy nước" hay "nhạc vỉa hè". Câu hỏi đặt ra là: tại sao An Phú và Minh Phát lại là "vỉa hè", và "vỉa hè" có nghĩa gì trong ngành xuất bản nhạc tờ?
"Vỉa hè" ở đây không có nghĩa miệt thị. Nó mô tả một mô hình kinh doanh và một kênh phân phối khác với Tinh Hoa hay Tinh Hoa Miền Nam.
Một NXB nhạc tờ "chính thống" như Tinh Hoa có nhà in riêng, có hiệu sách riêng, có hệ thống trao đổi qua bưu điện với các đại lý ở Huế, Đà Nẵng, Hà Nội, Sài Gòn. Nó in giấy Bristol dày, in typo nhiều màu trước 1970, in offset từ 1970, có hoạ sĩ riêng chăm bìa. Sản phẩm phân phối qua nhà sách Khai Trí, Sống Mới, Tao Đàn, hay các tiệm sách lớn của Sài Gòn. Nó thuộc về một mạch văn hoá có giấy tờ.
Một NXB "vỉa hè" như An Phú hay Minh Phát thì khác. Họ thường có quy mô gọn: một hai người chủ, mượn nhà in ngoài, in số lượng ít, giấy không tinh xảo bằng, bìa có khi chỉ một hai màu, hoạ sĩ bìa thay đổi tuỳ quyển, có khi không ghi tên. Sản phẩm bán trực tiếp trên lề đường, ở các sạp báo, các tủ kính nhỏ trước nhà sách lớn, hay trong các quán cà phê. Họ in nhanh, in để bán theo nhu cầu tức thời: hôm nay Đài Pháp Á phát một ca khúc mới, mai đã có tờ nhạc ấy trên vỉa hè. Cái tốc độ ấy là thế mạnh của họ. Họ không cần đợi cấp giấy phép như NXB lớn, không cần qua nhà in chuẩn, không cần làm hợp đồng tác quyền chính thức. Đôi khi họ trả tác quyền cho nhạc sĩ một khoản nhỏ rồi tự in, đôi khi họ in trước rồi trả sau, đôi khi nhạc sĩ phải đi đòi mới được.
Phạm Duy gọi nguyên cả cơ chế ấy là "chợ trời âm nhạc": người bán có quầy có sạp, nhưng cũng có người bán "máy nước", tức bán ngay đầu vòi nước công cộng, nơi tập trung dân lao động bình dân. Một bài hát mới ra, một học sinh nghe phát trên đài, bước xuống vỉa hè đầu phố, mua một tờ giấy Bristol gấp đôi với cái bìa hai màu, mang về nhà tự gắn vào sổ tay nhạc của mình. Đó là sinh thái mà các tên An Phú, Minh Phát, Sóng Lúa, Hương Thu phục vụ.
Hai chữ "vỉa hè" gắn vào hai cái tên ấy phản ánh một thực tế kinh tế hơn là một phán xét thẩm mỹ. Một học sinh đệ tứ trường Petrus Ký năm 1953, lương cha mẹ vài trăm đồng một tháng, không thể tuần nào cũng mua một tờ nhạc Tinh Hoa bảy đồng. Nhưng cậu ta vẫn muốn có Buồn Tàn Thu, Suối Mơ, Trương Chi, Bến Xuân để tự đánh đàn ghi-ta ở nhà. Cậu xuống vỉa hè đường Catinat hay đường Tự Do, mua được một bản in Minh Phát hay An Phú giá rẻ hơn, in bìa một hai màu, lời nhạc đầy đủ, có hợp âm bên trên khuông nhạc. Cậu mang về nhà, gấp đôi cho vào cặp, vào lớp khoe bạn. Đó là cách hàng vạn học sinh Sài Gòn tiếp xúc với tân nhạc Việt.
An Phú: ngôi sao "vỉa hè" và nơi Trịnh Công Sơn ra mắt
Trong cụm "vỉa hè", An Phú là cái tên đặc biệt. Theo các tài liệu tân nhạc còn lại, An Phú là một trong hai NXB nhạc tờ "nổi bật nhất Sài Gòn cùng với Tinh Hoa", in nhạc cả tiền chiến lẫn đương đại. Tờ nhạc Sóng Tà Dương, bản nhạc Schubert được Phạm Duy đặt lời Việt, đề năm xuất bản 1952, là một trong những tựa nổi nhất của An Phú đầu thập niên 1950. An Phú dù mang nhãn "vỉa hè" trong cách phân loại của giới nhạc sĩ, thực ra là một địa chỉ rất sống của tân nhạc Sài Gòn thời ấy, có liên hệ trực tiếp với Phạm Duy và các nhạc sĩ tiền bối.
Bước ngoặt quan trọng nhất của An Phú trong dòng tân nhạc Việt là việc xuất bản Ướt Mi, ca khúc đầu tay được in của Trịnh Công Sơn. Theo các tư liệu, Trịnh Công Sơn sáng tác Ướt Mi năm 1958 sau khi nghe một cô ca sĩ trẻ mười sáu tuổi đến từ Huế, Thanh Thuý, hát ở phòng trà Sài Gòn. NXB An Phú phát hành Ướt Mi năm 1959 và trả tác quyền cho tác giả 5.000 đồng. Đó là một con số rất lớn lúc ấy: lương công chức trẻ chỉ vài trăm đồng mỗi tháng, một tô phở quanh chợ Bến Thành giá khoảng năm đồng. Khoản 5.000 đồng An Phú trả cho cuốn Ướt Mi, gấp gần một nghìn lần một tô phở, cho thấy hai điều: An Phú dù mang nhãn "vỉa hè" vẫn dám đầu tư khi gặp tài năng; và cái dòng "vỉa hè" của Sài Gòn 1950s không hoàn toàn rẻ tiền, nó có khả năng phát hiện và đẩy lên một cây bút chưa ai biết. Trịnh Công Sơn, từ tờ nhạc đầu tay được An Phú phát hành ấy, mới bắt đầu sự nghiệp âm nhạc kéo dài bốn mươi năm sau này.
Câu chuyện Ướt Mi đáng được nhắc kỹ vì nó là một bằng chứng phản bác cách nhìn coi "vỉa hè" như đồng nghĩa với "rẻ tiền". Cùng một tờ nhạc bằng giấy Bristol gấp đôi, có thể là một bản nhái vội, có thể là một tác phẩm khai sinh ra cả một dòng âm nhạc cho cả nước Việt. Hai điều ấy cùng tồn tại trong một sạp hàng vỉa hè đường Catinat, dưới ánh đèn dầu của một chú chủ sạp khoảng năm mươi tuổi không ai biết tên.
Minh Phát và năm tên còn lại của cụm "vỉa hè"
Minh Phát là cái tên "vỉa hè" thứ hai trong danh sách Phạm Duy 1951. Ít được nhắc đến hơn An Phú, nhưng Minh Phát có mặt trong số sáu NXB trả tác quyền cho Phạm Duy năm ấy. Hai chữ "vỉa hè" gắn theo, nói lên rằng Minh Phát là một cơ sở nhỏ, hoạt động ở các sạp lề đường, in nhanh in nhiều, không mạnh về thương hiệu nhưng mạnh về lưu thông. Theo tư liệu của KB Momo Bookstore và một số bài về Kha Thuỳ Châu, Minh Phát có thuê Kha Thuỳ Châu vẽ bìa cho một số tờ nhạc của họ, cùng với NXB Diên Hồng.
Sống Chung và Á Châu nằm giữa "chính thống" và "vỉa hè". Cả hai đều có tên trong danh sách Phạm Duy 1951, đều ở Sài Gòn. Sống Chung in tờ nhạc đều đặn trong thập niên 1950 và là một địa chỉ được Phạm Duy nhắc đến trong hồi ký ở chương "Vào Sài Gòn Để Khởi Đầu". Á Châu ở Sài Gòn có lẽ là người kế tục cái tên Á Châu Hà Nội từng in Hương Cố Nhân (1941), Mây Tần (1942) của Nguyễn Bính trước đó, mà cũng có thể là hai cơ sở khác nhau cùng tên. Văn học sử và âm nhạc sử Việt Nam còn chưa làm rõ điểm này, và đó là một câu hỏi đáng được người chơi nhạc tờ hôm nay tiếp tục đào.
Hương Thu, Sóng Lúa, Phương Mộc Lan (xuất hiện từ 1949), Diên Hồng, Nguyên Thảo, Tiếng Bạn, Lửa Hồng là bảy cái tên còn lại của cụm. Tất cả đều ở Sài Gòn, đều in tờ nhạc rời, đều quy mô nhỏ. Họ in những ca khúc mới của các nhạc sĩ trẻ. Phương Mộc Lan, năm 1949, là một trong những địa chỉ đầu tiên có cái tên hơi thi vị, hơi cải lương, hợp với khán giả nữ; có thể tên ấy là viết tắt của một bộ ba người sáng lập (Phương, Mộc, Lan), nhưng tư liệu chưa làm rõ. Sóng Lúa, có lẽ là cái tên mộc nhất trong cụm, hợp với cái ý đồng quê đang được phổ biến qua Đài Pháp Á và Đài Phát Thanh Sài Gòn. Nguyên Thảo gắn với Phạm Thế Mỹ; chính ông sau này cũng là một trong các nhạc sĩ "ăn khách" của Minh Phát và Diên Hồng. Diên Hồng, đáng chú ý, là một trong hai NXB chính thức thuê Kha Thuỳ Châu vẽ bìa cho hàng nghìn tờ nhạc của họ, cùng Minh Phát và Sống Mới. Hương Thu, Tiếng Bạn, Lửa Hồng là ba cái tên mà thông tin còn lại gần như không gì hơn ngoài tên, dù họ đều xuất hiện trên thị trường nhạc tờ Sài Gòn trong khoảng 1950-1965.
Mây Ngàn là một cái tên muộn hơn, hoạt động khoảng 1965-1975. Tư liệu nội bộ Momo Bookstore ghi nhận Mây Ngàn in tập Nhạc Ru Tuổi Hồng, một tựa hợp tinh thần thanh thiếu niên Sài Gòn giữa thập niên 1960. Mây Ngàn không cùng giai đoạn với cụm 1950, nhưng nó là người kế tục mạch in tờ nhạc bình dân của An Phú, Minh Phát, Sóng Lúa. Thị trường nhạc tờ "vỉa hè" của Sài Gòn không chết ở năm 1956 khi Tinh Hoa Huế đóng cửa; nó tiếp tục đẻ ra những nhánh con suốt hai mươi năm cho tới 1975.


Bristol gấp đôi, hai mươi hai trên ba mươi: đặc điểm vật lý của tờ nhạc
Để hiểu cái thị trường ấy, cần hiểu cái vật mà nó bán. Một tờ nhạc Sài Gòn thập niên 1950 có những đặc điểm vật lý rất rõ ràng, được cộng đồng sưu tầm tờ nhạc về sau lập danh mục cẩn thận.
Khổ tiêu chuẩn là 22 trên 30 phân, tức gần một tờ A4 ngang. Giấy là Bristol, loại giấy dày dùng cho bưu thiếp và bìa tập. Tờ nhạc gồm bốn trang: trang 1 là bìa do hoạ sĩ vẽ, trang 2 và 3 là khuông nhạc kèm lời, trang 4 là bìa cuối, dành để giới thiệu các nhạc phẩm sắp phát hành của NXB. Với những bài dài, người làm tờ nhạc tận dụng cả trang 4 để in tiếp, như trường hợp Tình Hoài Hương của Phạm Duy.
Trước năm 1970, tờ nhạc Sài Gòn in bằng kỹ thuật typo, đôi khi chỉ một màu trên nền khác đen, đặc biệt là các tờ "vỉa hè" của Minh Phát hay Sóng Lúa. Từ đầu thập niên 1970, kỹ thuật offset thay thế, kéo theo việc dùng ảnh ca sĩ trên bìa thay cho tranh vẽ. Ảnh Thanh Lan, Khánh Ly, Nhật Trường, Duy Khánh, Giao Linh, Hoàng Oanh trở thành chủ đề chính của bìa tờ nhạc Sài Gòn giai đoạn cuối. Riêng nữ ca sĩ Thanh Thuý, người gắn với cảm hứng Ướt Mi của Trịnh Công Sơn, được người sưu tầm về sau gọi là "nghệ sĩ xuất hiện nhiều nhất trên hình bìa tờ nhạc xưa".
Một đặc điểm khác đáng nhắc: từ thập niên 1960 trở đi, các tờ nhạc bắt đầu in thêm hợp âm guitar và piano trên khuông nhạc. Đó là sự nương theo thị hiếu mới của một lớp công chúng học sinh tự học đàn ghi-ta ở nhà. Hợp âm in chữ nhỏ phía trên dấu nhạc, ban đầu chỉ vài ba ô, sau dày đặc khắp bài. Nhờ chi tiết kỹ thuật ấy, người chơi tờ nhạc hôm nay có thể đoán niên đại tương đối: tờ nhạc không có hợp âm thì gần như chắc chắn trước 1960; tờ nhạc có hợp âm dày là thuộc nửa cuối thập niên 1960 hoặc đầu 1970.
Các hoạ sĩ bìa: Phi Hùng, Duy Liêm và Kha Thuỳ Châu
Bìa tờ nhạc Sài Gòn là một di sản hội hoạ riêng, không giống tranh tường, không giống tranh chiêm ngưỡng, mà có thẩm mỹ riêng của loại tranh thương phẩm cho đại chúng. Trong gần ba mươi năm sống của thị trường tờ nhạc Sài Gòn, có mấy thế hệ hoạ sĩ bìa nối tiếp nhau.
Thế hệ đầu (cuối 1940s, đầu 1950s) gồm Phi Hùng, Ngọc Tùng, Bạch Đằng Cát Mỹ. Cả ba đều theo trường phái tả chân, in bìa hai màu, thường chọn một thiếu nữ hay một cảnh quê làm chủ đề. Cái thẩm mỹ ấy dễ tiếp thu với công chúng vừa thoát khỏi chiến tranh, tìm một hình ảnh dịu, gần, thuần Việt.
Thế hệ thứ hai (giữa 1950s) là Duy Liêm. Hoạ sĩ Duy Liêm, tên thật Trần Duy Liêm, sinh năm 1916 ở Phan Thiết (theo một số nguồn ghi 1914), vào Sài Gòn học Trường Dạy Vẽ Gia Định khoa Hội Hoạ Trang Trí, tốt nghiệp năm 1937. Ông là hoạ sĩ vẽ theo trường phái lập thể, một sự đổi mới mạnh mẽ so với phong cách tả chân của lứa trước. Đề tài ông phong phú: cảnh chài lưới Phan Thiết, đền Angkor, vinh quy bái tổ, ghe thuyền trên sông, cung điện Huế, và đặc biệt là thiếu nữ Việt Nam. Có một giai thoại được giới nhạc sĩ kể đi kể lại: các NXB Tinh Hoa Miền Nam, Diên Hồng, Sống Mới có chung một lời khuyên cho các nhạc sĩ trẻ muốn nhạc phẩm ăn khách: "phải cố cho được bìa do Duy Liêm vẽ". Phong cách lập thể của ông biến mỗi bìa nhạc thành một bức tranh độc lập, đáng giữ lại làm vật sưu tầm. Duy Liêm mất năm 1994, thọ 80 tuổi.
Thế hệ thứ ba và đỉnh điểm là Kha Thuỳ Châu. Tên thật Nguyễn Tấn Thành, ông sinh năm 1932 ở Rạch Giá, học cùng lớp tiểu học với nhà văn Nguyễn Quang Sáng. Ông xuất hiện trên bìa tờ nhạc từ năm 1958, ban đầu cho NXB Tinh Hoa Miền Nam của Lê Mộng Bảo, sau lan ra Diên Hồng, Minh Phát, và nhiều NXB khác. Phong cách Kha Thuỳ Châu khác Duy Liêm hoàn toàn: không lập thể, mà tả chân pha nét đổi mới, hướng đến đen trắng nhiều màu, phù hợp với kỹ thuật in khắc gỗ và in kim loại thời đó. Ông được cộng đồng sưu tầm gọi là người vẽ "hàng nghìn bìa nhạc tờ" Sài Gòn cuối thập niên 1950 đến 1975. Bên cạnh nghề vẽ bìa, ông còn kẻ chữ, thiết kế phim ảnh, và từ năm 1959 phụ trách giao tế cho công ty du lịch Saigon Service Center, công ty du lịch Việt đầu tiên, có lần tiếp xúc cả tạp chí Playboy của Mỹ về một liên doanh.
Đặt cạnh nhau, Duy Liêm và Kha Thuỳ Châu là hai trục thẩm mỹ của bìa tờ nhạc Sài Gòn cao điểm. Duy Liêm là "lập thể đậm chất hoạ sĩ", Kha Thuỳ Châu là "tả chân hiện đại đáp ứng nhu cầu in nhanh". Hai phong cách ấy không tranh chấp mà bổ sung nhau, và cùng làm thành cái gương mặt thị giác mà bất kỳ ai sống ở Sài Gòn thập niên 1960 đều nhận ra ngay khi nhìn vào một sạp tờ nhạc lề đường.
Đặt vào dòng chảy âm nhạc Việt: vì sao những cái tên này quan trọng
Đọc lại danh sách hơn mười nhà xuất bản nhạc tờ "vỉa hè" Sài Gòn, người yêu tân nhạc khó tránh khỏi cảm giác bất ngờ.
Lâu nay, khi nhắc tới sự định hình của nhạc Việt thập niên 1950, ta hay quy hết về Tinh Hoa. Như thể chỉ có Tinh Hoa mới là người đã đưa các bài hát từ tâm trí nhạc sĩ ra tới tai công chúng. Sự thật phức tạp hơn nhiều. Nếu không có An Phú và Minh Phát in vỉa hè, không có Sống Chung và Á Châu in giá rẻ, không có Hương Thu, Sóng Lúa, Phương Mộc Lan, Diên Hồng rải rác khắp các sạp, thì cái đại chúng tân nhạc Sài Gòn thập niên 1950 không thể nào đông đảo như đã thấy. Tinh Hoa là mặt tinh tuyển, là cái Việt Nam đối diện với "Worldwide Music Trade Directory" của Thuỵ Điển. Nhưng cụm "vỉa hè" là cái mạch ngầm đem nhạc đến tận tay người trẻ.
Phải đặt hai mặt này song hành thì mới hiểu được cái sức ép sinh thái của tân nhạc Sài Gòn thập niên 1950. Một thị trường có cả Tinh Hoa lẫn Minh Phát, có cả Tinh Hoa Miền Nam của Lê Mộng Bảo lẫn Sóng Lúa của một ông chủ vô danh, có cả nhuận bút một lượng vàng cho một ca khúc đỉnh lẫn nhuận bút năm trăm đồng cho một bản nhái, là một thị trường lành mạnh, có chiều sâu, có cả "nghệ thuật cao" lẫn "đại chúng rẻ". Khi viết lịch sử nhạc tờ Việt Nam, nếu bỏ một trong hai vế ấy, thì lịch sử sẽ thiếu.
Còn một lớp ý nghĩa thứ hai. Câu chuyện Ướt Mi của Trịnh Công Sơn năm 1959 ở An Phú cho thấy "vỉa hè" không phải là một nhãn cố định. Một NXB "vỉa hè" có khả năng nhìn thấy một cây bút mới, đầu tư một số tiền lớn, đẩy người ấy lên bước đường nghệ thuật. Nói cách khác, ranh giới "chính thống" và "vỉa hè" không phải ranh giới chất lượng, mà là ranh giới hạ tầng. Một bên có nhà in, có hệ thống phân phối, có thương hiệu; một bên có sạp, có khả năng tiếp cận trực tiếp khách hàng, có sự cơ động. Cả hai mặt cùng cần cho một nền âm nhạc đại chúng phát triển.
Lớp ý nghĩa thứ ba liên quan tới câu chuyện về Đài Pháp Á và đời sống bài hát mới. Năm 1951, Đài Phát Thanh Pháp Á có trụ sở ở Đại Lộ Hàm Nghi (Boulevard de La Somme) gần chợ Bến Thành phát những ca khúc mới của Phạm Duy, Hoàng Trọng, Văn Cao, Dương Thiệu Tước. Bài hát phát buổi sáng, đến buổi chiều đã có tờ nhạc bán ở vỉa hè đường Catinat. Cái chu kỳ ngắn đó chỉ thực hiện được nhờ các NXB "vỉa hè" có khả năng in nhanh. Tinh Hoa không in nhanh được, Tinh Hoa cần thời gian biên tập, in mỹ thuật, gửi đại lý. An Phú và Minh Phát thì khác. Cứ có bài là in. Cứ có khách là bán. Hệ sinh thái tân nhạc Sài Gòn 1950 hoạt động được là vì có cả hai vận tốc đó cùng tồn tại.

Bài học cho người sưu tầm tờ nhạc hôm nay
Đối với người chơi tờ nhạc hôm nay, biết phân biệt nhãn "chính thống" và "vỉa hè" trong cụm Sài Gòn 1950 có giá trị thực dụng.
Một tờ Tinh Hoa, bìa Kha Thuỳ Châu hoặc Duy Liêm, in offset thập niên 1960, hôm nay dễ bán giá cao, vì có hoạ sĩ tên tuổi, có thương hiệu nhà xuất bản, có sự công nhận quốc tế. Một tờ An Phú hay Minh Phát thập niên 1950, in mộc, bìa hai màu, không có hoạ sĩ ghi tên, dễ bị xem nhẹ, dễ bán giá rẻ, đôi khi bị bỏ thành xấp giấy lẫn lộn ở các quầy sách cũ. Nhưng những tờ ấy, với người am hiểu, mới là chứng cứ vật chất cho mạch ngầm của tân nhạc Việt. Một tờ Minh Phát có Sóng Tà Dương nhạc Schubert lời Phạm Duy in năm 1952 trên giấy ngả vàng là một mẫu vật của một thị trường âm nhạc đại chúng đang định hình. Một tờ An Phú có Ướt Mi bản 1959 còn nguyên bìa là một hiện vật cấp cao trong sự nghiệp Trịnh Công Sơn, ngang với một bản in đầu Hoàng Tử Bé của An Tiêm. Một tờ Sóng Lúa, Hương Thu, Phương Mộc Lan, dù chỉ là một bản nhạc đơn lẻ, cũng là dấu vết của một cơ sở xuất bản không bao giờ có lại được.
Người sưu tầm có tâm nên giữ ý thức ấy. Không phải mọi giá trị đều nằm ở bìa đẹp và hoạ sĩ tên tuổi. Một tờ nhạc "vỉa hè" có khi là cánh cửa duy nhất còn sót lại để hiểu mặt đại chúng của tân nhạc Việt thập niên 1950. Cánh cửa ấy, càng ngày càng hẹp đi, vì giấy Bristol thập niên 1950 không phải loại giấy bền, vì chiến tranh, vì các cuộc chuyển nhà, vì lửa, vì mối mọt. Mỗi tờ giữ lại được hôm nay là một sự may mắn nhỏ.
Có một quy tắc thực dụng cho người định giá tờ nhạc Sài Gòn hôm nay. Một tờ nhạc cũ nên được đánh giá theo bốn trục: ai là nhạc sĩ, ai là hoạ sĩ bìa, ai là NXB, niên đại nào. Nếu đủ bốn yếu tố ấy nói lên một thời điểm văn hoá đặc biệt, dù là tờ Tinh Hoa hay tờ "vỉa hè", giá trị sưu tầm đều cao. Cụ thể, một tờ Tinh Hoa 1945 in Đêm Đông của Nguyễn Văn Thương có giá ngang với một tờ An Phú 1959 in Ướt Mi của Trịnh Công Sơn, dù một là chính thống một là vỉa hè, vì cả hai đều đánh dấu một khoảnh khắc khai mở. Người chơi cần học cách nhìn xa hơn nhãn NXB.
Một mảnh ký ức Sài Gòn còn vương lại
Nhìn lại từ năm 2026, cụm hơn mười cái tên ấy gần như không còn ai nhớ. An Phú không có Wikipedia, dù đã in ra tờ nhạc khai sinh sự nghiệp Trịnh Công Sơn. Minh Phát chỉ xuất hiện trong vài bài blog rời rạc, dù đã trả tác quyền cho Phạm Duy năm 1951. Sóng Lúa, Hương Thu, Diên Hồng, Nguyên Thảo, Phương Mộc Lan, Mây Ngàn, mỗi cái tên là một dấu chấm bị xoá khỏi dòng văn hoá Sài Gòn. Đặt cạnh sự nổi tiếng của Tinh Hoa và Tinh Hoa Miền Nam, sự lặng im của cụm "vỉa hè" là một bất công của lịch sử.
Một phần bất công ấy đến từ chính bản chất "vỉa hè" của họ. Họ không lưu giữ tài liệu, không in catalog, không có hồi ký người sáng lập. Họ tồn tại bằng cách phát hành, không tồn tại bằng cách ghi chép. Khi họ ngừng phát hành, họ ngừng tồn tại. Phần khác đến từ thói quen viết sử của ta: ta thích viết về cái lớn, cái có tên, cái có sự công nhận quốc tế. Cái nhỏ, cái không tên, cái bán ở vỉa hè, hiếm khi vào sử. Cả Lê Mộng Bảo của Tinh Hoa Miền Nam, dù được trang nhacxua.vn dành cho hai ba bài chân dung dài, cuối đời cũng sống "lay lắt" và mất ở California, một số phận đáng để chúng ta suy ngẫm khi định giá lại nhân vật đã đứng ở đỉnh của nhạc tờ Việt suốt hai mươi năm.
Nhưng người yêu sách cũ và yêu nhạc cũ hôm nay đang dần làm cái việc bị bỏ. Họ đi tìm những tờ nhạc rời còn sót lại trong tủ của các bà cụ Sài Gòn vào Nam thập niên 1954, trong gác xép của các gia đình công chức Sài Gòn cũ, trong các sạp sách lê la đường Đặng Thị Nhu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi. Họ chụp ảnh, họ scan, họ post lên các diễn đàn nhạc xưa như Dòng Nhạc Xưa, nhacxua.vn, Saigon Nhỏ News. Họ tự lập catalog cho An Phú, Minh Phát, Sóng Lúa từ các bản còn sót lại. Mỗi một tờ nhạc được đăng lên là một sợi dây nhỏ nối lại cái mạch ngầm bị đứt.
Đó là cách ngành sưu tầm sách cũ và nhạc cũ trả nợ cho một mảng đại chúng văn hoá đã từng nuôi sống bao thế hệ thanh niên Sài Gòn. Một mảng văn hoá không nằm trong từ điển âm nhạc, không nằm trong sử văn nghệ chính thống, nhưng đã từng có mặt trên tay từng cậu học sinh, từng cô nữ sinh, từng người lính trẻ ở các thị trấn miền Trung và miền Tây. Một học sinh Vũng Tàu năm 1962 mua được tờ nhạc Hạ Trắng của Trịnh Công Sơn từ một sạp vỉa hè giá năm đồng, tự đánh đàn ghi-ta ở nhà, hát trong sân trường, là cái thứ tân nhạc Việt ở mặt bụi bặm, lề đường, và vì thế ở mặt thật nhất của nó. Cái mạch ngầm ấy là cái cần được trả nợ nhất khi viết sử tân nhạc Việt.
Tại Momo Bookstore, chúng tôi đang tìm và giữ lại tờ nhạc gốc của các NXB Sài Gòn thập niên 1950 đến 1970, kể cả các cái tên "vỉa hè" An Phú, Minh Phát, Sống Chung, Sóng Lúa, Hương Thu, Phương Mộc Lan, Diên Hồng, Nguyên Thảo, Mây Ngàn, lẫn các cái tên "chính thống" Tinh Hoa và Tinh Hoa Miền Nam. Đặc biệt các tờ nhạc bìa Duy Liêm, Kha Thuỳ Châu, Phi Hùng, Ngọc Tùng, Bạch Đằng Cát Mỹ, các tờ in trước 1960 và các bản in đầu Ướt Mi (An Phú 1959), Sóng Tà Dương (An Phú 1952), Đêm Đông (Tinh Hoa 1945), là những hiện vật chúng tôi đặc biệt ưu tiên. Quý độc giả có thể xem các tờ nhạc và sách âm nhạc hiện có tại bộ sưu tập Sách Trước 1975 trên website muabansachcu.vn.
Nguồn tư liệu
Bài viết dựa trên tư liệu nội bộ từ kho sách tham khảo của Momo Bookstore, đối chiếu với các nguồn công khai trên mạng. Nội dung được viết lại từ tư liệu, không sao chép nguyên văn từ bất kỳ nguồn nào.
Tư liệu nội bộ:
- Phạm Công Luận, Sài Gòn Chuyện Đời Của Phố, tập 2, NXB Văn Hoá Văn Nghệ TP.HCM, 2014, các chương về NXB Tinh Hoa Miền Nam, Lê Mộng Bảo, hoạ sĩ Kha Thuỳ Châu và Duy Liêm; tập 1 (2013) phần về Duy Liêm và hãng Thành Lễ.
- Hồi ký Phạm Duy về việc nhận tác quyền năm 1951 từ sáu NXB Thế Giới, Tinh Hoa, Sống Chung, Á Châu, An Phú, Minh Phát.
- Tư liệu về tân nhạc Việt Nam tổng hợp từ hồi ký các nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, Phan Huỳnh Điểu, Phạm Thế Mỹ, Trịnh Công Sơn.
Các bài viết tham khảo trên mạng:
- "Thú Chơi Tờ Nhạc", Lê Văn Nghĩa (Tuổi Trẻ Cuối Tuần, cuoituan.tuoitre.vn) và bản đăng lại trên Dòng Nhạc Xưa (dongnhacxua.com).
- "Nhạc Tờ Sài Gòn Và Những Bản Quay Ronéo" (nguoidothi.net.vn).
- "Tinh Hoa Của Một Thời Nhạc Việt" (tuoitre.vn).
- "Nhạc Tờ Không Chịu Cũ" (Saigon Nhỏ News, 2025, saigonnhonews.com).
- "Cuộc Đời Và Sự Nghiệp Nhạc Sĩ Lê Mộng Bảo, Ông Giám Đốc Hào Phóng Của Nhà Xuất Bản Tinh Hoa Miền Nam" (nhacxua.vn).
- "Phận Nghèo Lê Mộng Bảo, Đại Gia Ngành Xuất Bản Nhạc Của Sài Gòn Xưa Và Cuộc Sống Lay Lắt Những Năm Cuối Đời" (nhacxua.vn).
- "Lê Mộng Bảo", mục từ Wikipedia tiếng Việt.
- "Hoạ Sĩ Duy Liêm, Người Vẽ Bìa Tờ Nhạc Trước 1975" (nhacxua.vn).
- "Hoạ Sĩ Duy Liêm, Tác Giả Của Những Bìa Tờ Nhạc Vàng Nổi Tiếng" (nhacxua.vn).
- "Hoạ Sĩ Duy Liêm, Người Vẽ Bìa Tờ Nhạc Trước 1975 Ở Miền Nam"
- "Duy Liêm, Một Người Nghệ Sĩ Đa Tài" (leauctions.vn).
- "Đôi Nét Về Hoạ Sĩ Kha Thuỳ Châu Và Hình Vẽ Quen Thuộc Trên Hàng Ngàn Bìa Tờ Nhạc Trước 1975" (nhacxua.vn).
- "Một Góc Nhớ Về Những Bìa Nhạc Bản Ở Sài Gòn Trước Năm 1975" (trunghockientuong.com).
- "60 Hình Bìa Tờ Nhạc Đẹp Nhất Được Phát Hành Ở Saigon Trước Năm 1975" (nhacxua.vn).
- "Hoàn Cảnh Sáng Tác Của Ca Khúc Ướt Mi Của Cố Nhạc Sĩ Trịnh Công Sơn" (thoixua.vn).
- "Về Ca Khúc Ướt Mi Của Nhạc Sĩ Trịnh Công Sơn" (dongnhacvang.com).
- "Ca Khúc Ướt Mi, Nỗi Mặc Cảm Nghèo Và Tình Đơn Phương Của Trịnh Công Sơn Với Một Mỹ Nhân" (tintuconline.com.vn).
- "Thanh Thuý, Nghệ Sĩ Xuất Hiện Nhiều Nhất Trên Hình Bìa Tờ Nhạc Xưa" (bencublog.wordpress.com).
- "Nhìn Lại Âm Nhạc Miền Nam 1954-1975" (vanviet.info).




Viết bình luận